Tên khoa học: Erythropalum scandens Blume

Tên Tiếng Việt: Rau bò khai, Dây bò khai, dây ngót rừng, rau khai, rau ngót leo, hồng trục, Dây mằn hăn, khau hương (Tày), lòng châu sói (Dao)

Họ: Dây hương (Erythropalaceae).

Đặc điểm

Rau bò khai (Dây bò khai) là loại dây leo thân gỗ, leo bằng tua cuốn, chiều dài từ 5-10m. Cành mềm, khi còn non có cạnh nhẹ, vỏ ngoài màu lục xám. Lá mọc so le, có hình tim hoặc tam giác, gốc phẳng hoặc hơi lõm, đầu nhọn, kích thước dài từ 9-16cm và rộng 6-11,5cm. Mép lá nguyên, hơi lượn sóng; mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu xám mốc. Lá có ba gân chính, cuống dài khoảng 3,5cm, hai đầu cuống phình to, đôi khi hơi dính vào phiến lá.

Hoa của dây bò khai mọc thành cụm dạng ngù ở kẽ lá, có lá bắc hình tam giác nhọn. Hoa nhỏ, lưỡng tính, đài hình đấu với 5 răng; tràng 5 cánh nhẵn ở mặt ngoài, đầu có lông dạng mi. Hoa có 5 nhị mọc đối diện cánh hoa, chỉ nhị ngắn, bầu hạ, 1 ô.

Quả dạng mọng, hình trái xoan, có sẹo ở đầu, màu vàng hoặc đỏ khi chín, chứa một hạt hình trứng.

Mùa hoa quả: Từ tháng 4 đến tháng 6.

Phân bố

Dây bò khai thuộc chi Erythropalum Blume, là loài duy nhất tại Việt Nam. Cây phân bố từ Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây xuất hiện rải rác tại các vùng núi từ Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn đến Tây Nguyên, ở độ cao từ vài chục mét (đảo Hòn Mê – Thanh Hóa) đến trên 1000m (Tây Nguyên).

Dây bò khai ưa môi trường ẩm và bóng mát trong giai đoạn cây còn nhỏ. Cây thường leo lên các bụi cây hoặc cây gỗ trong rừng ẩm lá rộng thường xanh, đặc biệt tại các khu vực núi đá vôi như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, và Tuyên Quang. Đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) được coi là nơi tập trung nhiều dây bò khai nhất, với các cây thân đường kính 5-6cm, chiều cao leo trên 10m.

Cây nở hoa và kết quả hàng năm vào mùa mưa. Quả chín có thể tồn tại đến đầu mùa hoa năm sau. Chồi non mọc vào đầu mùa mưa, tại ngọn cũ hoặc thân già. Để thu hái ngọn non làm rau, người dân thường cắt bỏ cành già vào tháng 2-3. Ngọn non dây bò khai, hay còn gọi là “rau hiến,” được bán phổ biến tại chợ Cao Bằng. Cây có thể nhân giống bằng hạt hoặc cành dây.

Bộ phận dùng

Toàn cây, đặc biệt là ngọn non và lá bánh tẻ, thường được thu hái vào mùa xuân – hè, dùng tươi hoặc phơi khô.

Tác dụng

Dây bò khai có vị hơi đắng, tính bình, mang tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu.

Ngọn và lá non của dây bò khai được thái nhỏ, vò kỹ, rửa sạch để khử mùi khai, sau đó nấu canh, luộc hoặc xào, tạo hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, sau khi ăn, nước tiểu có mùi khai nên cây còn được gọi là “rau khai” hay “rau bò khai”

Về y học, lá non và lá bánh tẻ của cây rau bò khai có tác dụng lợi tiểu, hỗ trợ chữa phù thận, đái rắt, đái vàng. Người ta thường dùng 20-40g cây tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước, lọc lấy nước uống. Có thể dùng riêng hoặc kết hợp với lá Bòng Bong.

Theo kinh nghiệm dân gian tại Bắc Thái, dây bò khai sắc nước uống có thể hỗ trợ điều trị viêm gan siêu vi. Thân và cành cây, sau khi bỏ lá, thái nhỏ, phơi khô, được ngâm rượu để chữa sốt và tê thấp. Tại Trung Quốc, dây bò khai còn được sử dụng để điều trị viêm gan, viêm thận cấp, viêm niệu đạo, tiểu tiện khó thông với liều dùng 12-14g mỗi ngày, sắc lấy nước uống.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *